Wednesday, February 23, 2011

Toàn văn bản hiệu triệu Cách Mạng Hoa Lài Trung Quốc

Giới Thiệu: Tác giả của văn bản hiệu triệu cuộc “Cách Mạng Hoa Lài” ở Trung Quốc vẫn còn là một bí mật. Các nguồn thông tin Hoa Ngữ ở Đài Loan đặt ra nghi vấn có sự tham dự của Pháp Luân Công vì trong lời kêu gọi có nhắc đến tổ chức này.

Trong lúc đó “Thế Giới Nhật Báo” lấy nguồn tin khác cho rằng do lãnh tụ phong trào sinh viên Thiên An Môn, Vương Đán viết ra. Gần đây BBC Hoa Ngữ liên tiếp đưa bài về Vương Đán với lời nhận xét của anh phong trào kêu gọi như vậy là đã thành công. Trung Quốc bị một bản tin trên mạng mà trở nên lo sợ báo động toàn quốc.

Trong lúc đó, Pháp Luân Công đã phủ nhận nguồn tin nói rằng chính họ kêu gọi phong trào. Pháp Luân Công cho rằng họ là những người tu hành, không tham dự chính trị, quản chi chuyện thế gian…

Do đó, bản văn kêu gọi này vẫn nằm ở dạng khuyết danh, không thủ lãnh, không tác giả, không tổ chức đảng phái nào chịu trách nhiệm.

Văn bản hiệu triệu phát đi vào ngày 17 tháng 2, và nằm trên facebook nhà Vương Đán vào ngày 18 tháng 2. Không loại trừ múi giờ chênh lệnh của giờ Trung Quốc và giờ Mỹ.

Dù thế nào đi nữa, bản văn hiệu triệu này trở nên hấp dẫn và quan trọng bởi tinh thần bao dung và ôn hòa, ứng xử với các tình huống qua lời gọi.

Đứng trên một góc độ xã hội, chính nó đã buộc nhà cầm quyền Trung Quốc, Hồ Cẩm Đào tuy quyết đàn áp phong trào nhưng phải trả lời về những bức xúc của người dân trong cuộc họp vào ngay đêm hôm trước khi Hoa Lài xuống phố.



Bản Việt Ngữ:

Địa điểm tụ tập tại các thành phố lớn cho cách mạng Hoa Lài ở Trung Quốc

中国“茉莉花革命”各大城市集会地点

Trung Quốc “Lai Lợi Hoa Cách Mạng” Các Đại Thành Thị Tập Hội Địa Điểm




Dù bạn là người có con bị sỏi thận (do nhiễm sữa độc), căn hộ bị dỡ bỏ, người mướn chung phòng, quân nhân thối chuyển, nhà giáo dạy tư, nhân viên thâm niên của ngân hàng bị bán, nhân viên vừa mất việc, hay người đang xin việc làm.



Dù bạn hoặc là có sự bất mãn đối với kết luận của “bản án Tiền Vận Hội”, không thích có người nói, “có bố là Lý Cương”, không thích bị người đòi “đối xử hợp lý, xã hội công bằng”, hay là không thích xem ảnh đế Ôn (Gia Bảo) diễn xuất. (Đoạn này liên quan đến những câu chuyện thời sự chính trị tham nhũng tiêu cực ở Trung Quốc)



Dù bạn là người từng ký tên vào Hiến Chương 08, người tu hành theo Pháp Luân Công, hay là đảng viên cộng sản, nhân sĩ các đảng phái dân chủ.



Thậm chí bạn là người chỉ là người đứng xem. Ngay từ phút giây này, bạn và tôi đều là người Trung Quốc. Bạn và tôi đối với tương lai đều là những người Trung Quốc có ước mơ. Mỗi chúng ta đều có trách nhiệm với tương lai vì con cháu của chúng ta sau này.



Chúng ta chỉ cần đi đến một địa điểm đã định trước, xa xa nhìn xem, chầm chậm tuỳ chân, thuận thế mà làm, dũng cảm mà hô lên những khẩu hiệu. Có lẽ, lịch sử từ thời khắc này bắt đầu lay chuyển.



Hãy cùng nhau đến, tất cả đều là anh chị em, hãy cùng kề vai tương trợ. Nếu lỡ phát sinh nên cảnh những người tham dự có hành động bất lương xin hãy ứng xử hết sức nhẫn nại, xin sự ủng hộ của người qua đường. Sau khi tụ tập kết thúc, đừng để lại rác. Người Trung Quốc có tố chất cao, có điều kiện để truy cầu tự do dân chủ.



Nếu như lần chiêu tập này tại các đô thị chưa được thành công, thì có thể vào mỗi Chủ Nhật vào lúc 2 giờ chiều sẽ tiếp tục cuộc hành trình. Kiên trì sẽ dẫn đến thắng lợi.



Thống nhất về các khẩu hiệu

Chúng tôi cần cơm ăn

Chúng tôi cần việc làm

Chúng tôi cần chốn ở

Chúng tôi cần công bình

Chúng tôi cần công nghĩa

Bảo vệ quyền tư hữu tài sản

Duy trì độc lập tư pháp

Vận động cải cách chính trị

Chấm dứt chuyên chính độc đảng

Trả quyền báo chí

Tự do thông tin

Tự do muôn năm

Dân chủ muôn năm



Thời Gian

2:00 Giờ chiều, ngày 20/2/2011



Địa điểm

Bắc kinh: Vương Phủ Tỉnh, trước cửa McDonald

Thượng Hải: Quảng trường nhân dân, cửa trước Ảnh Đô

Thiên Tân: dưới Cổ Lâu

Nam Kinh: Quảng trường Cổ Lâu, Cổng bách hóa trên đường Tú Thủy

Tây An: Đường Bắc Đại, Cổng Gia Lạc Phúc

Thành Đô: Quảng trường Thiên phủ dưới tượng Mao chủ tịch

Trường Sa: Quảng trường Ngũ Nhất, Cổng Tân đại hạ Tân đại

Hàng Châu: Quảng trường Vũ lâm, Cổng Hàng Châu bách hóa đại lâu

Quảng Châu: Công viên nhân dân, Cổng Tinh Ba Khắc

Thẩm Dương: Nam Kinh bắc giai, Khẳng Đức Cơ môn khẩu

Trường Xuân: Quảng trường văn hóa, Đại lộ Tây dân chủ, Cửa siêu thị khoái lạc cấu

Cáp Nhĩ Tân: Cáp Nhĩ Tân cổng viện điện ảnh

Vũ Hán: Đại đạo giải phóng, Quảng trường Thế Mậu cổng McDonald



Những thành phố nào không có trong danh sách này, xin bạn hãy đến tập trung ở những quảng trường trung tâm của thành phố đó.



Trần Đông Đức dịch từ Hoa Ngữ

http://www.rfavietnam.com/node/425

Thursday, February 17, 2011

17 tháng Hai, 1979

Ngày này của 32 năm về trước, bá quyền Trung Quốc xua quân xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới giữa hai nước. Sau cuộc chiến, cả Trung Quốc lẫn Việt Nam đều tuyên bố đã chiến thắng. Nhưng sự thật thì ai đã THẮNG trong cuộc chiến này đây? Khi số quân, dân bên Việt Nam đã thiệt hại hơn gấp đôi số quân, dân của TQ. Và cuộc chiến này cũng đã gây ra nhiều thiệt hại nặng nề về kinh tế cho Việt Nam: các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, thị trấn Cam Đường bị hủy diệt hoàn toàn. Bao nhiêu là trường học, bệnh viện, bệnh xá, xí nghiệp, hầm mỏ và đất đai hoa màu đã bị tàn phá. Bao nhiêu gia súc đã bị giết và cướp sạch. Hơn một nửa dân số ở các vùng biên giới Việt Nam bị mất nhà cửa, tài sản. Và đã bao nhiêu con người dân Việt đã ngã xuống nơi này.

Ngoài các thương vong về con người, những thiệt hại về vật chất ở 6 tỉnh biên giới bị phá hủy do trận chiến, Việt Nam còn phải gánh chịu nhiều khó khăn, thiệt hại do thái độ và chính sách thù địch, vây hãm mà Trung Quốc và đồng minh của Trung Quốc gây ra trên các mặt trận quân sự, kinh tế, ngoại giao, v.v... Về lâu dài, nó mở đầu cho hơn 10 năm căng thẳng trong quan hệ và xung đột vũ trang dọc biên giới giữa hai quốc gia, buộc Việt Nam phải thường xuyên duy trì một lực lượng quân sự khổng lồ dọc biên giới, gây hậu quả xấu đến nền kinh tế. Sinh hoạt và sản xuất của người dân vùng biên giới bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngoài ra, nhiều cột mốc biên giới cũng bị quân Trung Quốc phá hủy, gây khó khăn cho việc hoạch định biên giới sau này. Và nặng nề hơn cả là đã bao nhiêu tấc đất của cha ông đã cố công gìn giữ qua bấy nhiêu đời nay, bây giờ lại lọt sạch vào tay Trung Quốc.

Bây giờ, không biết còn đếm được trên đầu ngón tay bao nhiêu cuốn sách giáo khoa, bao nhiêu sách vở, báo chí còn nhắc đến cuộc chiến này ngay ở tại mảnh đất Việt Nam quê tôi!? Dường như "người ta" cũng đang vô tình (hay cố ý) không nhắc nữa để dần dà cho trôi tất cả vào quên lãng ư? Hay lại cố tình dùng câu "bỏ lại quá khứ, mở ra tương lai" để khỏa lấp?! Quên sao được, khi có quá nhiều bia mộ vô danh và những tấm bia chẳng khắc rõ hy sinh ở cuộc chiến nào. Nếu có ai đã từng đi qua Lạng Sơn, Cao Bằng, Ha Giang hay những địa danh như Cầu Kỳ Cùng, Đồng Đăng, Chi Mai,Bản Giốc, Yên Minh, Vi Xuyên và được gặp những người đã từng sống, từng trải qua những thời điểm gay go của hơn 30 năm trước thì mới hiểu rõ cái nỗi đau của những người dân đất Việt tại những nơi này. Họ đã mất mát, đã hy sinh quá nhiều, nhưng tất cả những mất mát, hy sinh, và nỗi đau của họ lại ít được ai nhắc đến và trân trọng!

Hơn 30 năm sau cuộc chiến, Việt Nam đã THẮNG được những gì hay lại mỗi ngày càng mất đất, mất biển và càng phụ thuộc vào Trung Quốc nhiều hơn? Ngày đó, phía TQ "rút quân" như có thật sự là chúng chịu THUA hay không? Thậm chí bây giờ, TQ đã không cần phải mất công xua quân xâm lược bằng vũ trang vào lãnh thổ Việt Nam như những năm tháng cũ nữa. Chúng chỉ cần dần dà mua chuộc, điều khiển những "chóp bu" thứ thiệt của chính quyền ĐCSVN để dần dà sẽ cắt đi từng miếng đất, từng thước biển và chiếm dần từng mảnh đất của đất Việt thân yêu mà không cần phải tốn một ......viên đạn, một giọt máu nào cả.

Hãy giữ lấy giang san khi còn có thể nhé bạn ơi!!!

Friday, February 11, 2011

Từ Bắc Kỳ Di Cư tới Tỵ Nạn Chính Trị

Bác sĩ Nguyễn Ý-Ðức

Ðang giờ học Việt Văn của giáo sư Nguyễn Tường Phượng thì tôi được nhân viên phòng Giám Học kêu xuống gặp người nhà. Tôi học lớp Ðệ Tam ban A, Trung Học Chu Văn An ở Hà Nộị

Tới văn phòng, tôi thấy bố tôi đang ngồi nói chuyện với Thầy Hiệu Trưởng Vũ Ngô Xán và Thầy Giám Học Vũ Ðức Thận. Bố tôi quen với hai cụ qua người anh họ tôi là ông Vũ Ngọc Các, chủ nhiệm báo Dân Chủ ở đường Gia Long Hà Nộị Bố cho tôi hay là đã xin phép hai cụ để cho tôi nghỉ học sớm và theo ông về quê có việc.

Hai bố con về nhà tôi trọ để thu xếp đồ đạc rồi ra bến xe đò về tỉnh Hải Dương. Trên đường đi, bố tôi cho hay là phải di cư vào Nam ngay vì Việt Minh sắp tiếp thu Hà Nội và các tỉnh bên đây sông Bến Hảị





Vào thời gian đó, tình hình chiến sự miền Bắc sôi động ác liệt mạnh mẽ. Ði đâu cũng thấy nói tới sự rút lui của quân đội viễn chinh và quân đội quốc giạ Khi đó, phương tiện truyền tin là đài phát thanh và mấy tờ báo, chứ đâu có internet, truyền hình như ngày nay, nên tin tức rất hiếm hoi, đôi khi chỉ là truyền khẩụ

Rất nhiều dân chúng Hà Nội và các tỉnh lỵ miền Bắc cũng hốt hoảng, vội vã sửa soạn thu vén di cư vào Nam. Uỷ Ban Bảo Vệ Bắc Việt đã được thành lập song hành với Uỷ Ban Di cư.

Ðường phố ngổn ngang những đồ vật mang ra bán. Những tủ chè, sập gụ, những lư đồng, bình sứ rồi quần áo, gia dụng, thôi thì đủ thứ. Ai ai cũng cố bán tống bán tháo để có chút vốn di cư. Ðó là cuộc di cư vĩ đại của cả triệu đồng bào miền Bắc, bỏ mồ mả cha ông chỉ vì không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản ngoại laị Họ đã nghe nói cũng như chứng kiến sự khắc nghiệt của chính quyền đối với dân chúng ở vùng do chế độ kiểm soát. Những đấu tố, những thủ tiêu không nương tay, những kiểm soát theo dõi đời sống rất khắt khẹ

Bố tôi đang làm việc tại tòa Tỉnh Trưởng Hải Dương. Ông cũng chỉ là nhân viên phù động do quen biết chứ không phài là công chức chính ngạch. Xuất thân con nhà có chút ruộng đất, nên trước chiến tranh, ông chỉ giao du hưởng thụ. Ông nội mua cho bố tôi chức Hội trong làng, nên cũng là vai vế đối với chốn đình trung chiếu trên chiếu dưới và ngoài xã hộị Theo anh tôi thì ông cụ cũng “phá gia chi tử” lắm. Thời đó làm gì có ngân hàng, chi phiếu, thẻ tín dụng nên đỏ đen hết tiền mặt là văn tự ruộng đất, nhà cửa được đưa ra để cầm bán.

Gia đình chúng tôi phải bỏ quê lên tỉnh làm ăn vì không thích hợp với “kháng chiến địa phương”. Ông bác ruột bị thủ tiêu vì giữ chức Cửu trong xã. Anh tôi khi đó mới 12 tuổi không sớm băng đồng trong đêm chạy lên huyện thì cũng bị bắt. Chồng của cô tôi bị bắt nhầm, tưởng là bố tôị Ông cụ đã về vùng tề từ mấy ngày trước. Lý do là họ nhà tôi làm chủ một số điền thổ trong tổng và được liệt kê vào hạng “cường hào, ác bá”.

Hai bố con về tỉnh để sửa soạn ra đị Chúng tôi phải xuống Hải Phòng để đi tầu thủy, vì khi đó chương trình di cư đang ở cao điểm nên di tản bằng đường hàng không trở nên rất hiếm hoị

Những ngày nấn ná sửa soạn, bán nhà cửa đồ đạc, chờ ngày lãnh giấy lên tầu là những ngày rất giao động. Họ hàng ở dưới quê lên thăm hỏi, chia taỵ Nhiều người nỉ non quyến dụ. Nào là đất nước thanh bình đến nơi rồi, tại sao không ở lại mà hưởng “tự do, hạnh phúc”! Rằng chính phủ rất khoan hồng, mọi người đều được tiếp tục làm việc như trước.

Một bà bạn của gia đình có cô con gái rượu thì “cháu ở lại đi, mai mốt đất nước thống nhất thì tha hồ mà vào thăm Sàigòn”. Ông chú ruột làm phát ngân viên cho Bảo Chính Ðoàn tỉnh được gia đình vợ hai móc nối ở lại: “cứ mang hết tiền quỹ về quê xây dựng sự nghiệp, giúp làng xóm, tha hồ mà sướng”. Nhưng bố tôi đã nhất quyết ra đi vì đã phần nào hiểu rõ bản chất của chế độ. Bà vợ kế ở lại với một đứa con gần hai tuổi và bụng chửa hơn bốn tháng, vì bố mẹ ở dưới quê muốn gắn bó với quê cha đất tổ.

Ngày ngồi trên xe lửa từ Hải Dương xuống Hải Phòng mới thực vất vả và chứng kiến nhiều bi hài kịch. Tầu đậu ở nhiều ga dọc theo đường số 5 để lấy thêm khách, mà hầu hết là xuống Phòng để vô Nam bằng “tầu há mồm”. Cán bộ địa phương được tung ra để gây trở ngại cho người di cư. Thôi thì khóc lóc, níu kéo ở lại, ngăn cản lên tầụ Cũng có những chửi mắng “đi liếm chân đế quốc làm Việt gian cho giặc Pháp”. Chẳng khác gì “tàn dư Mỹ Ngụy” mấy chục năm sau nàỵ Rồi vứt đồ, đánh đập cho bõ ghét.

Làm thân rau muống Bắc kỳ di cư vào miền đất trù phú trong Nam gần ba mươi năm, người dân miền Bắc đã đóng góp nhiều cho mảnh đất quê hương. Và cũng đã hy sinh nhiều xương máu chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Nhưng kết quả là chỉ tránh được hiểm họa Ðỏ cho một phần nhỏ của thế giới với cái giá là một lần nữa lại tỵ nạn vào phần tư cuối của thế kỷ hai mươị

Từ Bắc Kỳ Di Cư tới tỵ nạn chính trị thấm thoát mà đã hơn nửa thế kỷ. Về quê hương thì vẫn thấy nhiều ngậm ngùi chua sót. Những người vì hòa bình và thống nhất ở lại miền quê thì đời sống không khác gì mấy so với 50 năm về trước. Có chăng là ngọn đèn điện, chiếc ti vi, chiếc xe gắn máỵ Vẫn quần quật, giật gấu vá vai lam lũ, vẫn chân đất với bùn lầy nước lỗ chân trâụ Ngày kiếm được việc làm trị giá 50 xu Mỹ là mừng rồị

Ông chú đã sớm ra người thiên cổ vì những riếc móc theo địch, hại nước hại dân, tịch thu tài sản. Bà thím già nua, kèm nhèm quệt nước mắt với bầy cháu nội ngoại thò lò mũi xanh thì: “Giá mà ngày đó chú thím và các em theo chân bố cháu!” Cô em gái lao động Ðông Âu dành được chút tiền mở sạp hàng xén cho qua ngàỵ Mấy đứa cháu chưa bao giờ biết mặt thì “chúng cháu theo giải phóng vào kiếm các chú thì các chú đã ra đi, không đợi chúng cháu đi với”.

Báo chí trong nước phản ảnh đầy rẫy những than phiền của dân chúng cũng như tuyên bố của viên chức chính quyền các cấp về tham nhũng, cửa quyền, bất công, thất nghiệp, tệ đoan xã hộị Ðã có những chương trình, đề nghị, nhưng áp dụng, thực hiện thì nửa vời, cầm chừng, trồi sụt như thấy tháng của bà nạ dòng sắp vào tuổi mãn kinh. Khoảng cách giầu nghèo sao mà quá chênh lệch. Một bữa “chiêu đãi” cá sông Việt Trì bảy món với rượu ngoại của người giầu quyền thế tốn công quỹ cơ quan cả dăm bảy trăm Mỹ kim như không. Trong khi đó thì ngân sách quốc gia dành cho y tế chỉ có năm mỹ kim mỗi năm cho một đầu người, so với Tư bản Mỹ phí phạm, bỏ ra những 2000 tiền đô xanh.

Với cộng đồng tỵ nạn thì, theo nhiều người, cũng còn một số điều tưởng như cần làm, cần thay đổi, thích nghị Chẳng hạn, có ý kiến cho rằng nếu cộng đồng vững mạnh thì bạn cũng lắng nghe mà đối phương cũng nể vì, và rằng sống trên đất nước mà quyền tự do, dân chủ được tôn trọng tối đa, chẳng nhẽ lại cứ mãi mãi “Con đường của ta là duy nhất đúng, mọi phương thức khác là chao đảo, bợ đỡ”. Nhà bình luận Ðại Dương đã viết: “Biết chấp nhận dị biệt may ra mới trở thành người tử tế. Ngược lại dễ trở thành tồi tệ”.

Chúng ta cùng có mục tiêu là tranh đấu để có tự do, dân chủ cho đồng bào ở Việt Nam cơ mà. Hầu hết những người theo bố mẹ làm Bắc Kỳ di cư rồi đứng mũi chịu sào đưa gia đình đi tỵ nạn chính trị ở ngoại quốc đang ở vào giai đoạn cuối của cuộc đờị Hôm nay ngồi lại với nhau, ôn lại ngày lẽo đẽo lên tầu há mồm vô Nam dọc theo bờ biển chữ S, rồi bồng bế con cái di tản bằng phương tiện tiến bộ hơn, mà thấy nao nao, ướt mắt.

Tương lai như chìm dần...
Thôi đành trông cậy ở thế hệ đến sau, trong và ngoài nước, nhìn rõ thực tại, nhiệt huyết hơn, thẳng thắn hơn, công bằng hơn.

Cần xây dựng cộng đồng uy tín, quê hương có tự do, dân chủ cụ thể, thực tế chứ không chỉ trên giấy tờ, văn bản. Thành quả dù là tương đối, có còn hơn không.

Hồi Tưởng Của Một Người Hà Nội

Nguyễn Văn Luận

Ông Hòa là cựu sĩ quan Cộng Hòa, bị Cộng Sản bắt tù năm 1975, rồi sang Mỹ theo diện HỌ Tôi gặp ông tại một tiệc cưới rồi thành bạn. Chúng tôi thường gặp nhau vì cùng sở thích, dù trong quá khứ ông sống tại miền Nam, tôi ở xứ Bắc.


Một lần, cháu Thu Lan, con ông Hòa, hỏi tôi: “Bác ở Hà Nội mà cũng đi tị nạn à?” Nghe hỏi một câu ngây thơ như vậy nên tôi chỉ cười: “Cái cột đèn mà biết đi, nó cũng đi... huống chi là bác!”

Thực ra tôi đã không trốn thoát được từ lần đầu “vượt tuyến” vào miền Nam, thêm nhiều lần nữa và hai lần “vượt biển” vẫn không thoát, chịu đủ các “nạn” của chế độ Cộng Sản trong 27 năm ở lại miền Bắc. Tôi không “tị nạn” mà di tìm tự do, trở thành “thuyền nhân”, đến nước Mỹ năm 1982.




Sinh trưởng tại Hà Nội, những năm đầu sống ở Mỹ, tôi đã gặp nhiều câu hỏi như cháu Thu Lan, có người vì tò mò, có người giễu cợt, thời gian rồi cũng hiểu nhaụ Tôi hằng suy nghĩ và muốn viết những dòng hồi tưởng, vẽ lại bức tranh Hà Nội hôm xưa, tặng thế hệ trẻ và riêng cho những người Hà Nội “di cư”.

Người dân sống ở miền Nam trù phú, kể cả hàng triệu người di cư từ miền Bắc, đã không biết được những gì xảy ra tại Hà Nội thời Cộng Sản chưa vận com-lê, đeo cà vạt, phụ nữ không mặc áo dàị

Hiệp định Geneve chia đôi nước Việt. Cộng Sản, chưa lộ mặt là Cộng Sản, tràn vào miền Bắc tháng 10 năm 1954. Người Hà Nội đã “di cư” vào miền Nam, bỏ lại Hà Nội hoang vắng, tiêu điều, với chính quyền mới là Việt Minh, đọc tắt thành Vẹm. Vì chưa trưởng thành, tôi đã không hiểu thế nào là Vẹm!

Khi “tiếp quản” Hà Nội, tôi đang ở Hải Phòng. Dân đông nghịt thành phố chờ “tầu há mồm” để di cư. Trước Nhà Hát Lớn, va li, hòm gỗ, bao gói xếp la liệt. Lang thang chợ trời, tôi chờ cha tôi quyết định đi Nam hay ở lạị Hiệp định Geneve ghi nước Việt Nam chỉ tạm thời chia cắt, hai năm sau sẽ “tổng tuyển cử thống nhất”. Ai ngờ Cộng Sản miền Bắc “tổng tấn công miền Nam!”

Gia đình lớn của tôi không ai làm cho Pháp cũng không ai theo Việt Minh. Cha tôi làm chủ một hãng thầu; ông nghĩ đơn giản là dân thường nên ở lạị Tôi phải về Hà Nội học.
Chuyến xe lửa Hà Nội “tăng bo” tại ga Phạm Xá; nghĩa là hai chính quyền, hai chế độ, ngăn cách bởi một đoạn đường vài trăm mét, phải đi bộ hoặc xe ngựạ Người xuống Hải Phòng ùn ùn với hành lý để đi Nam; người đi Hà Nội là con buôn, mang “xăng” về bán. Những toa tàu chật cứng người và chất cháy, từ chai lọ đến can chứa nhà binh, leo lên nóc tàu, bíu vào thành toa, liều lĩnh, hỗn loạn.

Tới cầu Long Biên tức là vào Hà Nộị Tàu lắc lư. Người va chạm ngườị Thằng bé chạc 15 tuổi quắc mắt nhìn tôi: “Ðề nghị đồng chí xác định lại thái độ, lập trường, tư tưởng!” Tôi bàng hoàng vì thứ ngoại ngữ Trung quốc, phiên âm thành tiếng Việt, nghe lần đầu không hiểu, để rồi phải “học tập” suốt 20 năm “ngoại ngữ Cộng Sản”: đấu tranh, cảnh giác, căm thù và... tiêu diệt giai cấp! (Thứ ngôn ngữ này, xin ghi trong ngoặc kép).

Hà Nội im lìm trong tiết đông lạnh giá. Người Hà Nội e dè nghe ngóng từng “chính sách” mới ban hành. “Cán bộ” và “bộ đội” chỉ khác nhau có ngôi sao trên mũ bằng nan tre, phủ lớp vải màu cỏ úa, gọi là “mũ bộ đội”, sau này có tên là “nón cối”. Hà Nội “xuất hiện” đôi dép “Bình Trị Thiên”, người Bắc gọi là “dép lốp”, ghi vào lịch sử thành “dép râu”. Chiếc áo dài duyên dáng, thướt tha của thiếu nữ Hà Nội được coi là “biểu hiện” của “tư sản, phong kiến”, biến mất trong mười mấy năm sau vì “triệt để cách mạng”. Lần đầu tiên, “toàn thể chị em phụ nữ” đều mặc giống nhau: áo “sơ mi”, quần đen. Hạn hữu như đám cưới mới mặc sơ mi trắng vì “cả nước” không có xà phòng.

Chơi vơi trong Hà Nội, tôi đi tìm thầy xưa, bạn cũ, nhưng họ hầu hết đã đi Nam. Tôi phải học năm cuối cùng Tú Tài 2 cùng một số “Lớp Chín hậu phương”, năm sau sẽ sát nhập thành “hệ mười năm”. Số học sinh “Lớp Chín” này vào lớp không phải để học, mà là “tổ chức Hiệu Ðoàn”, nhận “Chỉ Thị của Thành Ðoàn” rồi “phát động Phong Trào Chống Văn Hoá Nô Dịch”. Họ truy lùng... đốt sách! Tôi đã phải nhồi nhét đầy ba bao tải sách, “Hiệu Ðoàn”, “kiểm tra”, lục lọi từ quyển vở chép thơ, nhạc, đến tiểu thuyết và sách quí mang “tập trung” tại Thư Viện phố Tràng Thi để đốt. Lửa cháy bập bùng mấy ngày trong niềm “phấn khởi” với lời hô khẩu hiệu “quyết tâm”, và phát biểu của bí thư Thành Ðoàn: tiểu thuyết của Tự Lực Văn Ðoàn là “cực kỳ phản động!”. Vào lớp học với những “phê bình, kiểm thảo, cảnh giác, lập trường”, tôi đành bỏ học. Chiếc radio Philip “tự nguyện” mang ra “đồn công an”, thế là hết gia tài của tôi!

Mất đời học sinh, tôi bắt đầu cuộc sống đọa đày vì “thành phần giai cấp”, “sổ hộ khẩu”, “tem phiếu thực phẩm”, “lao động nghĩa vụ hàng tháng”. Ðây là chính sách dồn ép thanh niên Hà Nội đi “lao động công trường” miền rừng núi xa xôị Tôi chỉ bám Hà Nội được hai năm là bị “cắt hộ khẩu” đi tù!

Tết đầu tiên sau “tiếp quản”, còn được gọi là “sau hòa bình lập lại”, Hà Nội mơ hồ. Những bộ mặt vàng võ, áo quần nhầu nát, xám xịt, thái độ “ít cởi mở”, từ “nông thôn” kéo về chiếm nhà người Hà Nội di cư. Nguời Hà Nội ở lại bắt đầu hoang mang vì những tin đồn và “chỉ thị”: ăn Tết “đơn giản, tiết kiệm”. Hàng hóa hiếm dần, “hàng nội” thay cho “hàng ngoại”.

Âm thầm tôi dạo bước bên bờ Hồ Gươm tối 30 Tết. Tháp Rùa, Cầu Thê Húc nhạt nhòa, ảm đạm. Đền Ngọc Sơn vắng lặng. Chỉ có Nhà Thuỷ Tạ đêm nay có ca nhạc lần cuối cùng của nghệ sĩ Hà Nộị Ðoàn Chuẩn nhớ thương hát “Gửi người em gái miền Nam” để rồi bị đấu tố là “tư sản bóc lột”. Rạp xi nê Ðại Ðồng Phố Hàng Cót bị “tịch thu”. Hoàng Giác ca bài “Bóng Ngày Qua”, thành “tề ngụy”. Bạn bè “phân tán”, chẳng ai còn gặp nhau, sợ thành “phản động tụ tập”.

“Chỉ thị Ðảng và Uỷ Ban Thành” “phổ biến rộng rãi trong quần chúng” là diệt chó. “Toàn dân diệt chó từ thành thị đến nông thôn”. Gậy gộc, dây thừng, đòn gánh, nện chết hoặc bắt trói, rồi đầu làng, góc phố “liên hoan tập thể”! Lý do diệt chó nói là trừ bệnh dại, nhưng đó là “chủ trương” chuẩn bị cho đấu tố “cải tạo tư sản” và “cải cách ruộng đất”. Du kích, công an rình mò, “theo rõi”, “nắm vững tình hình” không bị lộ bởi chó sủạ Mọi nơi im phăng phắc ban đêm, mọi người nín thở chờ thảm họạ Hà Nội đói và rách, khoai sắn chiếm hai phần tem gạo, ba mét vải “cung cấp” một năm theo “từng người trong hộ”.

Mẹ may thêm chiếc quần “đi lao động” thì con nít cởi truồng! Người thành thị làm cật lực, xây dựng cơ ngơi, có ai ngờ bị qui là “tư sản bóc lột”, nhẹ hơn là “tiểu tư sản”, vẫn là “đối tượng của cách mạng”. Nông dân có dăm sào ruộng đất gia truyền vẫn bị qui là “địa chủ cường hào”.

Giáo sư Trương văn Minh, hiệu trưởng trường Tây Sơn, ngày đầu “học tập” đã nhảy lầu tự tử. “Tư sản Hà Nội” di cư hết, chẳng còn bao nhiêu nên “công tác cải tạo” được làm “gọn nhẹ” và “thành công vượt mức”, nghĩa là mang bắn một, hai người “điển hình”, coi là “bọn đầu xỏ” “đầu cơ tích trữ”, còn thì “kiểm kê”, đánh “thuế hàng hóa”, “truy thu”, rồi “tịch thu” vì “ngoan cố, chống lại cách mạng”!

Báo, đài hàng ngày tường thuật chuyện đấu tố, kể tội ác địa chủ, theo bài bản của “đội cải cách” về làng “bắt rễ bần cố nông”, “chuẩn bị thật tốt”, nghĩa là bắt học thuộc lòng “từng điểm”: tội ác địa chủ thì phải có hiếp dâm, đánh đập, bắt con ở đợ, “điển hình” thì mang thai nhi cho vào cối giã, nấu cho lợn ăn, đánh chết tá điền, hiếp vợ! Một vài vụ do “Ðảng lãnh đạo, vận động tốt”, con gái, con dâu địa chủ, “thoát ly giai cấp”, “tích cực tố cáo tội ác” cha mẹ.

Cảnh tượng này thật não nùng! Lời Bác dạy: “Trung với Ðảng, Hiếu với Dân” là vậy! “Bần cố nông” cắm biển nhận ruộng được chia, chưa cấy xong hai vụ thì “vào hợp tác”, “làm ăn tập thể”, ruộng đất lại thu hồi về “cộng sản”!

“Toàn miền Bắc” biết được điều “cơ bản” về Xã Hội Chủ Nghĩa là nói dối! Mọi người, mọi nhà “thi đua nói dối”, nói những gì Ðảng nóị Nói dối để sống còn, tránh bị đàn áp, lâu rồi thành nếp sống, cả một thế hệ hoặc lặng câm, hoặc nói dối, vì được “rèn luyện” trong xã hội ngục tù, lấy “công an làm nòng cốt chế độ”!

Ở Mỹ ai hỏi bạn: “How are yoủ”, bạn trả lời: “I am fine, thank you”. Ở miền Bắc, “thời đại Hồ chí Minh”, “cán bộ” hỏi: “công tác thế nàỏ”, dù làm nghề bơm xe, vá lốp, người ta trả lời: “...rất phấn khởi, ra sức thi đua, lập thành tích chào mừng các nước anh em”!

Bị bắt bên bờ sông Bến Hải, giới tuyến chia hai miền Nam Bắc, năm 19 tuổi, tôi bị mang về Lệ Thủy bởi “bộ đội biên phòng”, được “tự do” ở trong nhà chị “du kích” hai ngày, đợi đò về Ðồng Hớị Trải qua 9 trại giam nữa thì về tới Hỏa Lò Hà Nội, vào xà lim. Cảnh tù tội chẳng có gì tươi đẹp; xã hội cũng là một nhà tù, không như báo, đài hằng ngày kêu to “Chế độ ta tươi đẹp”. Cơ hàn thiết thân, bất cố liêm sỉ, người tù “biến chất”, người tứ chiếng kéo về, nhận là người Hà Nội, đói rét triền miên nên cũng “biến chất”! Ðối xử lọc lừa, gia đình, bè bạn, họ hàng, “tiếp xúc” với nhau phải “đề cao cảnh giác”. Hà Nội đã mất nền lễ giáo cổ xưa, Hà Nội suy sụp tinh thần vì danh từ “đồng chí”!

Người du lịch Việt Nam ít có ai lên vùng thượng du xứ Bắc, tỉnh Lào Cai, nơi đó có trại tù Phong Quang hà khắc, có thung sâu heo hút, có tù chính trị chặt tre vầu theo “định mức chỉ tiêu”. Rừng núi bao la, tiếng chim “bắt cô trói cột” nấc lên nức nở, tiếng gà gô thức giấc, sương mù quanh năm. Phố Hàng Ðào Hà Nội vốn là “con đường tư sản”. Có người trai trẻ tên Kim, học sinh Albert Sarraut, học trường Tây thì phải chịu sự “căm thù đế quốc” của Ðảng, “đế quốc Pháp” trước kia và “đế quốc Mỹ” sau nàỵ Tù chính trị nhốt lẫn với lưu manh, chưa đủ một năm, Kim Hàng Ðào “bất mãn”, trở thành Kim cụt, bị chặt đứt cánh tay, không thuốc, không “nhà thương” mà vẫn không chết! Phố Nguyễn Công Trứ gần Nhà Rượu, phía nam Hà Nội, có người thanh niên đẹp trai, với biệt danh Phan Sữa, giỏi đàn guitar, mê nhạc Ðoàn Chuẩn, đi tù Phong Quang vì “lãng mạn”, không hành lý đi tù nhưng vẫn ôm theo cây đàn guitar. Chỉ vì “tiểu tư sản” không “tiến bộ” nên không có ngày về, ba tháng “kỷ luật”, Phan Sữa hấp hối, khiêng ra khỏi Cổng Trời Hà Giang cao vút, gió núi mây ngàn, thì chết, tan theo giấc mơ Tình nghệ sĩ!

Người Hà Nội chết dần, đến thế hệ thứ hai, “xung phong”, “tình nguyện” hoặc bị “tập trung cải tạo”, xa rời Hà Nộị Bộ công an “quyết tâm quét sạch tàn dư đế quốc, phản động” nên chỉ còn người Hà Nội từ “kháng chiến” về, “nhất trí tán thành” những gì Ðảng... nói dối!

Tôi may mắn sống sót dù mang lý lịch “bôi đen chế độ”, “âm mưu lật đổ chính quyền”, trở thành người “Hà Nội di cư”, vài năm về Hà Nội đôi lần, khó khăn vì “trình báo hộ khẩu”, “tạm trú tạm vắng”. Do “kinh nghiệm bản thân”, “phấn đấu vượt khó khăn gian khổ”, số lần tù đã quên trong trí nhớ, tôi lần xuống thành phố Hải Phòng, vùng biển, là cơ hội ngàn năm một thuở cho người Hà Nội “vượt biên” khi chính quyền Hà Nội chống Tàu, xua đuổi người Hoa ra biển, khi nước Mỹ và thế giới đón nhận “thuyền nhân tị nạn”.

Năm 1980 tôi vào Sài gòn, thành phố đã mất tên sau ngày “giải phóng miền Nam”. Vào Nam, tuy phải lén lút mà đi nhưng vẫn còn dễ hơn “di chuyển” trong các tỉnh miền Bắc trước đâỵ Tôi bước trên đường Tự Do, hưởng chút dư hương của Sàigòn cũ, cảnh tượng rồi cũng đổi thay như Hà Nội đã đổi thay sau 1954 vì “cán ngố” cai trị!

Về lại Hải Phòng với “giấy giới thiệu” của “Sở Giao Thông” do “móc ngoặc” với “cán bộ miền Nam” ở Sài gòn, tôi đã tìm ra “biện pháp tốt nhất” là tìm những dân chài miền Bắc vùng ven biển. Ðã đến lúc câu truyền tụng: “Nếu cái cột điện mà biết đi…!”, dân Bắc “thấm nhuần” nên “nỗ lực” vượt biên.

Năm bốn mươi tư tuổi, tôi tìm được tự do, định cư tại Mỹ, học tiếng Anh ngày càng khá nhưng nói tiếng Việt với đồng hương vẫn còn pha chút “ngoại ngữ” năm xưạ Cuộc sống của tôi xưa ở Việt Nam đã đến “mức độ” khốn cùng nên tan nát, thương đaụ Khi đã lang thang đầu đường xó chợ thì mới đủ “tiêu chuẩn” “xuống thành phần”, lý lịch bấy giờ có thể ghi là “dân nghèo thành thị”, nhưng vẫn không bao giờ được vào “công nhân biên chế nhà nước”. Tôi mang nhẫn nhục, “kiên trì” sang Mỹ làm lại cuộc đời nên “đạt kết quả vô cùng tốt đẹp”, “đạt được nguyện vọng” hằng ước mơ!

Có người “kêu ca” về “chế độ tư bản” Mỹ tạo nên cuộc sống lo âu, tất bật hàng ngày, thì xin “thông cảm” với tôi, ngợi ca nước Mỹ đã cho tôi nhân quyền, dân chủ, trở thành công dân Hoa Kỳ gốc Việt, hưởng đầy đủ “phúc lợi xã hội”, còn đẹp hơn tả trong sách Mác Lê về giấc mơ cộng sản.

Chủ nghĩa cộng sản xụp đổ rồị Cộng Sản Việt Nam bây giờ “đổi mới”. Tiếng
“đổi” và “đổ” chỉ khác một chữ “i”. Người Việt Nam sẽ cắt đứt chữ “i”, dù phải từ từ, bằng “diễn biến hoà bình”.

Ôi! “Đỉnh cao trí tuệ”, một mớ danh từ!

Đổi tiền nữa hay không?

Kể từ sau 1975 đã có 3 lần đổi tiền:

- Lần thứ nhất vào ngày 2/9/1975: Ở Miền Nam, đổi tiền của chính quyền Sài gòn cũ bằng tiền Giải phóng theo tỷ giá 500 đồng tiền cũ bằng 1 đồng tiền mới giải phóng. Có phát hành thêm các loại tiền: 10 xu, 20 xu, 50 xu và 1 đồng, 2 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 50 đồng.

- Lần thứ hai ngày 3/5/1978: Thống nhất tiền tệ trong cả nước. Ở miền Bắc đổi từ tiền cũ sang tiền thống nhất theo tỷ giá 1 đồng cũ bằng 1 đồng tiền mới thống nhất. Ở miền Nam đổi tiền giải phóng sang tiền thống nhất theo tỷ giá 1 đồng giải phóng bằng 8 hào tiền thống nhất. Có phát hành thêm các loại tiền 5 hào, 1 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 30 đồng, 50 đồng, 100 đồng.

- Lần thứ ba ngày 4/9/1985: Đổi tiền cũ sang tiền mới (tiền hiện đang dùng) theo tỷ giá 10 đồng tiền cũ bằng 1 đồng tiền mới. Có phát hành theo tiền loại 10 đồng, 20 đồng, 50 đồng.

oOo

Vậy liệu với chuyện tiền VN đang mất giá khủng khiếp như bây giờ thì có thể sẽ có một vụ đổi tiền khác tiếp diễn như xưa nữa không?

Mà cho dù không có một vụ đổi tiền khác xảy ra thì chuyện lạm phát ở VN không thể chối cãi được. Ngân hàng nhà nước VN lại ra thông báo phá giá tiền đồng thêm một lần nữa (không biết đã là lần thứ mấy rồi nhỉ?). Hiện nay, một đô la (USD) đổi được 20693 đồng (VND), thay vì chỉ là 18932 đồng như trước đây. Đó là hối xuất chính thức của ngân hàng nhà nước thôi. Trong khi đó, giá "chợ đen" của đồng đôla có thể đổi được tới hơn 21000 đồng rồi kìa.

Tình trạng thâm hụt thương mại đang càng ngày càng khủng hoảng hơn bao giờ hết. Ai dám cãi là VN không có tình trạng lạm phát thì xin suy nghĩ lại giùm nhé. Và thử hỏi, làm cách nào để kinh tế VN có thể kiểm soát tình trạng lạm phát này được đây? Chuyện thâm hụt ngân sách, chuyện nợ công dường như đang càng ngày càng không cách gì cứu vãn nổi.

Đồng tiền VN càng ngày càng mất giá nặng nề. Chỉ tính sơ sơ từ cuối năm 2009 đến nay thì đồng tiền VN đã mất giả khoảng 20% chứ nào ít ỏi gì.

oOo

Và rồi cuối cùng, chuyện đồng tiền mất giá, chuyện lạm phát chỉ làm những người dân nghèo, dân lao động, v.v... càng khốn đốn, khổ sở hơn thôi. Và rồi, người nghèo lại càng nghèo hơn. Trong hơn 80 triệu dân VN bây giờ, thử hỏi có bao nhiêu phần trăm là "người giàu" thật sự đây?

Thế đó, cái vạch ngăn giữa giàu và nghèo ở mảnh đất chữ S lại càng ngày càng phân biệt rõ rệt hơn bao giờ hết!

Đau!!!

Friday, January 14, 2011

ĐỨC TGM LEOPOLDO GIRELLI: ĐẠI DIỆN TÒA THÁNH TẠI VIỆT NAM

Đọc được bản tin này mà mừng mừng, tủi tủi sao đâu.

Paris (Tin tổng hợp).- Ngày 14-1-2011, Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI chính thức bổ nhiệm Đức TGM Leoldo Girelli làm đại diện không thường trú của Tòa Thánh tại Việt Nam.


Theo nguồn tin ngoại giao, Đức Leopoldo Girelli hiện là Sứ thần Tòa thánh tại Indonexia. Việc bổ nhiệm này là một bước tiến mới trong quan hệ ngoại giao giữa Tòa thánh và Việt Nam, bắt đầu từ năm 2007. Nguyên tắc trao đổi đại diện ngoại giao giữa Tòa thánh và Việt Nam được loan báo từ tháng 6-2010. Với kinh nghiệm ngoại giao tại nhiều nước trong khu vực, vị đại diện đầu tiên của Tòa thánh sẽ thảo luận một số hồ sơ ưu tiên: việc thu hồi đất đai của Giáo hội (restitutions des terres) và các cơ sở giáo dục trên quy mô cả nước, theo giải thích của chuyên gia Régis Anouilh. Giáo hội quan tâm đặc biệt đến lãnh vực giáo dục và y tế. Các trường công giáo tại miền Bắc trước 1954, các trường công giáo tại miền Nam trước 1975, trong số có Viện Đại học Đà Lạt và Giáo hoàng Học viện Thánh Piô X, đều bị Nhà nước tịch thu. Các bệnh viện, chẩn y viện công giáo cũng bị giải thể. Vấn đề đặt ra hiện nay là nhu cầu giáo dục, y tế hiện nay rất quan trọng, Nhà nước không đủ phương tiện và nhân sự để tự điều hành. Việc Nhà nước cho phép mở các đại học dân lập trong nước hiện nay là một tiền lệ cho phép Giáo hội mở lại trường đại học công giáo và các cơ sở giáo dục cấp 1 và 2, cũng như các cơ sở y tế tại Việt Nam trong thời gian sắp tới. Theo thống kê chính thức, hiện có ít nhất 6 triệu người công giáo tại Việt Nam trên tổng số 86 triệu.

Nguồn tin ngoại giao Tòa thánh được hãng thông tấn AFP trích thuật nói rằng Giáo hội công giáo tại Việt Nam được đánh giá là quan trọng nhất tại châu Á, sau Phi Luật Tân. Giáo hội hiện vẫn bị Nhà nước kiểm soát chặt chẽ. Việc thu hồi đất đai của Giáo hội là nhiệm vụ quan trọng nhất của vị đại diện ngoại giao Tòa thánh, căn cứ theo luật pháp quốc tế và các tiền lệ từng được áp dụng tại tất cả các nước Đông Âu. Trong diễn văn đọc trước ngoại giao đoàn ngày 10-1-2011, Đức Bênêdictô XVI tỏ ra hài lòng về việc chính quyền Việt Nam chấp nhận bổ nhiệm nhà ngoại giao này vào chức vụ đại diện không thường trú tại Việt Nam, qua các cuộc viếng thăm cộng đồng Công giáo quý mến tại Việt Nam, nhà ngoại giao này sẽ bày tỏ sự quan tâm ân cần của Người Kế Vị Thánh Phêrô. Một tài liệu ngoại giao Tòa thánh khác công bố cùng ngày nhắc lại cuộc gặp gỡ lần thứ hai của nhóm công tác chung giữa Tòa thánh và Việt Nam vào hai ngày 23 và 24-6-2010 nhằm đào sâu quan hệ giữa Tòa thánh và Việt Nam cũng như để thắt chặt mối quan hệ giữa Tòa thánh và Giáo hội công giáo Việt Nam.

Việc bổ nhiệm vừa nói diễn ra đúng một tuần lễ sau Đại lễ bế mạc Năm Thánh, kỷ niệm 350 năm thành lập hai đại diện tông tòa đầu tiên và 50 năm thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, cử hành trọng thể từ 4 đến 6-1 vừa qua tại Thánh địa La Vang, với sự hiện diện của ĐHY Ivan Divas, bộ trưởng Thánh bộ Phúc âm hóa các dân tộc và là đặc phái viên của Đức Bênêdictô XVI.

Tiểu sử Đức TGM Leopoldo Girelli

Đức TGM Leopoldo Girelli sinh ngày 13-3-1953 tại làng Predore thuộc giáo phận Bergamo, miền Bắc nước Ý.

- 1978: thụ phong linh mục

- 1984-1987: theo học tại Học viện Ngoại giao Tòa thánh

- 1987-1991: Tham vụ tại Tòa Sứ thần tại Camerun

- 1991-1993: Cố vấn tòa sứ thần tại New Zealand

- 1993-2001: chuyên viên bộ Ngoại giao Tòa thánh

- 2001-2006: cố vấn tòa sứ thần tại Washington

- Ngày 13-4-2006, ngài là tổng giám mục hiệu hòa Capri, sứ thần Tòa thánh tại Indonexia (dân số Indonexia 240 triệu đứng hàng thứ tư trên thế giới và là nước có nhiều người theo đạo Hồi nhất)

- Ngày 10-10-2006, ngài kiêm nhiệm sứ thần Tòa thánh tại Timor-Leste.

- Ngày 13-1-2011: Sứ thần Tòa thánh tại Singapore.

- Ngày 12-1-2011: Khâm sứ Tòa thánh tại Malaxia và Brunei Darussalam.


ĐHY Tarcisio Bertone - Bộ Trưởng Ngoại Giao Tòa Thánh
Giáo hội công giáo hiện có 1 tỷ 100 người trên thế giới. Theo điều 2 hiệp ước Latran ký năm 1929, nước Ý công nhận chủ quyền của Tòa thánh trong lãnh vực quốc tế.

Trong giáo triều, ĐHY Tarcisio Bertone hiện nay là bộ trưởng ngoại giao. Các nhà ngoại giao Tòa thánh thuộc đủ quốc tịch, trong số có Đức TGM Phêrô Nguyễn Văn Tốt (sinh ngày 15-4-1949) là sứ thần Tòa thánh tại Costa Rica. Các nhà ngoại giao Tòa thánh được đào tạo tại Học viện Ngoại giao Tòa thánh (Académie pontificale ecclésisatique).

Ngoại giao Tòa thánh có lịch sử lâu đời từ 1600 năm nay. Tòa thánh hiện thiết lập quan hệ ngoại giao với 193 nước trên thế giới. (Việt Nam là quốc gia thứ 193).

Paris, ngày 14 tháng 1 năm 2011
Lê Đình Thông

Friday, January 7, 2011

Dự luật nhân quyền chế tài giới chức VN được đề xuất ở Hạ viện Mỹ

Thứ Năm, 06 tháng 1 2011


Hình: royce.house.gov

Dự luật, có tên 'Đạo luật Chế tài Nhân quyền Việt Nam’(Vietnam Human Rights Sanctions Act) do Dân biểu Ed Royce soạn thảo

Một dự luật nhằm chế tài các giới chức Việt Nam vi phạm nhân quyền đã được đề xuất tại Hạ viện Mỹ hôm thứ Tư (ngày 5 tháng 1, 2011) trong ngày làm việc đầu tiên của Quốc hội khóa 112.


Dự luật, có tên “Đạo luật Chế tài Nhân quyền Việt Nam’(Vietnam Human Rights Sanctions Act) do Dân biểu Ed Royce soạn thảo, cấm không cho các giới chức chính phủ Việt Nam vi phạm nhân quyền được vào nước Mỹ hoặc làm ăn với các công ty của Mỹ.

Hãng thông tấn Pháp trích thuật một thông cáo của vị dân biểu thuộc đảng Cộng hòa này nói rằng “Quốc hội cần phải ứng phó trước tình trạng chính phủ Việt Nam gia tăng những hành động đàn áp nhân quyền.” Ông Royce nói thêm rằng “những kẻ chà đạp tự do phải trả một cái giá”.

Dự luật này nói rằng Việt Nam là một nhà nước độc đảng do đảng Cộng Sản Việt Nam cai trị và kiểm soát, và tiếp tục tước đoạt quyền thay đổi chính phủ của người dân; và “những người can đảm lên tiếng chống lại hệ thống độc tài toàn trị này thường xuyên bị đánh đập, bắt bớ, hoặc bị giam lỏng.

Dự luật này đòi hỏi Tổng thống Mỹ lập ra một danh sách các giới chức “tiếp tục vi phạm trắng trợn các quyền con người của nhân dân Việt Nam” và áp đặt những biện pháp chế tài về du hành và tài chánh đối với những người trong danh sách đó.

Bên cạnh việc đưa ra dự luật vừa kể, dân biểu Ed Royce cũng đề xuất lại một nghị quyết để hối thúc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam trở lại danh sách “Các quốc gia cần đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo”, thường được gọi là danh sách CPC.

Nguồn: AFP, Ed Royce’s PR

============
Dự luật “Chế tài Nhân quyền Việt Nam”
Việt Hà, phóng viên RFA

Dân biểu Ed Royce hôm mùng 5 tháng 1 giới thiệu dự luận cấm vận dành cho Việt Nam do những vi phạm về nhân quyền.

AFP PHOTO / TIM SLOAN
Phiên họp Quốc hội Hoa Kỳ
khóa 112 ngày 05 tháng 01
năm 2011, Washington, DC.

Ông đồng thời một lần nữa cũng kêu gọi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam trở lại danh sách cần quan tâm đặc biệt. Trong khi đó cũng vào ngày mùng 5 tháng 1, một viên chức ngoại giao Mỹ khi đi thăm linh mục Nguyễn Văn Lý tại Huế, đã bị công an ngăn cản, hành hung.
Vi phạm quyền con người

Việt Hà phỏng vấn dân biểu Ed Royce về những đề nghị và diễn tiến mới này. Phần chuyển ngữ do Mặc Lâm thực hiện. Trước hết dân biểu Ed Royce giới thiệu về dự luật mới như sau:

Dân biểu Ed Royce: “Đây là dự luật cấm vận Việt Nam liên quan đến các vi phạm về quyền con người. Tôi giới thiệu dự luật này để có những cấm vận đối với các quan chức chính phủ, những người có những hành vi vi phạm quyền con người ở Việt Nam. Dự luật này nhắm vào quan chức chính phủ, công an, hay bất cứ ai tham gia vào việc vi phạm quyền con người đối với những người bất đồng chính kiến ôn hòa. Cách thức là cấm những người này không được vào Mỹ và cả cấm vận về tài chính. Dự luật này yêu cầu Tổng thống phải đưa ra một danh sách những người vi phạm nhân quyền ở Việt Nam và họ sẽ bị từ chối vào Mỹ và không được tham gia làm ăn với bất cứ công ty Mỹ nào.

Chúng tôi chuẩn bị vào kỳ họp Quốc hội và chúng tôi chuẩn bị thông qua dự luật này lần nữa tại Quốc hội và đưa ra Thượng viện. Vì dự luật này đã được đưa ra vào hồi cuối năm ngoái khi dân biểu Joseph Cao giới thiệu dự luật lần đầu. Điều đáng chú ý là khi tôi giới thiệu dự luật này thì vào cùng ngày, một nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ bị ngăn cản và tống giam bởi công an Việt Nam. Nguyên nhân là vì ông ta đến thăm linh mục Nguyễn Văn Lý. Cho nên điều mà chúng ta có đó là việc một nhân viên ngoại giao Hoa kỳ bị tấn công trực tiếp trong cùng ngày dự luật được đưa ra. Tôi cho đây là điều quan trọng vì nó nhắc nhở mọi người trên toàn thế giới chú ý đến vấn đề tự do tôn giáo và quyền con người ở Việt Nam.”

Việt Hà: Thưa ông dân biểu, ông có nói đến sự việc một nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ bị tấn công khi đến thăm linh mục Nguyễn Văn Lý hôm mùng 5 tháng 1. Sự việc này theo ông ảnh hưởng thế nào đến quan hệ Việt Mỹ?

Dân biểu Ed Royce: “Tôi cho rằng vấn đề chính phủ Việt Nam không tôn trọng quyền tự do phát biểu ý kiến và quyền tự do tín ngưỡng là rõ ràng được nói đến trong các báo cáo và báo chí Mỹ cũng đã nói đến những sự việc như thế sẽ ảnh hưởng đến quan hệ hai nước. Điều mà chúng ta muốn thấy là chính phủ Việt Nam thay đổi cách thức và cho phép quyền con người cũng như tự do tôn giáo lớn hơn.

Dân Biểu Ed Royce trong một lần
vận động cho nhân quyền VN
trước Quốc Hội Hoa Kỳ. RFA PHOTO.

Hiện Việt Nam là một nước độc đảng và tình hình thì đang ngày càng trở nên tồi tệ chứ không tốt hơn chút nào. Việt Nam vẫn tiếp tục đàn áp tôn giáo và bắt bớ những người bất đồng chính kiến mà tôi cho là họ sẽ không dừng lại chừng nào chính phủ Mỹ lên tiếng. Cho nên vấn đề này đang thu hút được sự chú ý khắp nơi về quyền con người ở Việt Nam. Nó cho thấy Việt Nam đang thụt lùi mà không có một tiến bộ nào mà chúng tôi mong đợi.”

Sự khác biệt

Việt Hà: Đã có những dự luật Việt Nam được đưa ra nhưng không phải dự luật nào cũng được thông qua tại cả hai viện. Dự luật này có gì khác biệt với các dự luật khác để có thể đảm bảo được thông qua và ông lạc quan thế nào về tương lai của dự luật?

Dân biểu Ed Royce: “Chúng tôi đã có những dự luật được thông qua ở Thượng viện trước kia dành cho các nước độc tài khác, cho nên đã có tiền lệ đối với các chính thể độc tài. Ví dụ như dự luật về quyền con người với Iran. Bây giờ chúng ta đã có cả một quá trình sẵn sàng. Nhưng điều mà chúng tôi muốn nói đến đó là phải có một sự tập trung lớn hơn về những vi phạm quyền con người trên toàn thế giới.

Những dự luật về quyền con người đã được thông qua đối với các nước khác và giờ đây là Việt Nam. Tôi hết sức tin tưởng là dự luật lần này sẽ được thông qua cũng giống như tôi tin tưởng vào nghị quyết tôi đưa ra hồi năm ngoái kêu gọi Bộ Ngoại Giao đưa Việt Nam lại danh sách CPC. Và dự luật đó đã gửi ra một thông điệp là hạ viện đứng về phía người dân Việt Nam. Và quốc hội sẽ tiếp tục gây sức ép lên chính phủ Việt Nam về vấn đề nhân quyền.”

Việt Hà: Đã nhiều lần ông và các đồng nghiệp kêu gọi đưa Việt Nam lại danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt nhưng dường như đều bị Bộ Ngoại Giao bỏ qua. Lần này, ông có lập luật nào đủ mạnh mẽ để có thể tạo sức ép lên Bộ Ngoại Giao?

Dân biểu Ed Royce: “Vấn đề của Bộ ngoại giao là họ cứ nói rằng đừng lo lắng, tình hình sẽ thay đổi liên quan đến quyền con người ở Việt Nam. Nhưng tình hình trên thực tế cứ ngày một tệ đi, đến mức giờ đây có một nhân viên Hoa Kỳ bị đối xử như vậy. Và chuyện này đã được nhiều người chứng kiến và đã xuất hiện trên báo chí khắp nơi, nhân viên ngoại giao theo luật quốc tế phải được bảo vệ đặc biệt, và chính phủ Việt Nam cần phải tuân thủ. Nhưng theo tôi, trong tình hình linh mục Lý đang bị quản chế chặt chẽ như vậy và một nhân viên ngọai giao Hoa Kỳ thì bị tấn công, bộ ngoại giao Mỹ đã bày tỏ quan ngại, và phản đối mạnh mẽ hành động này thì đây chính là một ví dụ nữa về sức ép đang tăng lên từ quốc hội lên Bộ Ngoại giao để đặt Việt Nam lại danh sanh CPC. Vì những hành động như vậy tiếp tục chứng mình là chúng ta đã không đi đúng đường, Việt Nam không có tiến bộ.

Chúng ta đã nhìn thấy tiến bộ ở nhiều nơi trên thế giới mà tại sao chúng ta lại không nhìn thấy những tiến bộ nào ở Việt Nam về quyền con người? Đây chính là lúc để chúng ta thông qua dự luật này. Tôi cho rằng sự kiện một nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ bị tấn công lần này cũng giúp tạo thêm sức ép lên bộ Ngoại giao Hoa Kỳ khi xem xét đưa Việt Nam vào danh sách CPC.”

Việt Hà: Xin cảm ơn ông đã dành cho chúng tôi buổi phỏng vấn này.